
“Hiểu thấu” tư tưởng Hồ Chí Minh và tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIV về công tác dân vận
Có thể khẳng định, tác phẩm “Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chỉnh thể lý luận mẫu mực, soi rọi tường tận từ ý nghĩa đến phương pháp của công tác dân vận. Với lối viết súc tích mà sâu sắc, Người đã luận giải những vấn đề lớn bằng câu chữ giản dị.
Trước hết, Người đưa ra quan niệm về công tác dân vận: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể đã giao cho”. Nhấn mạnh vai trò của công tác dân vận, Người khẳng định: “Lực lượng của dân rất to, việc dân vận rất quan trọng, dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”; đồng thời chỉ rõ: “Khuyết điểm to ở nhiều nơi là xem khinh việc dân vận”. Theo Người, công tác dân vận không phải nhiệm vụ riêng của một tổ chức hay cá nhân nào mà “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân đều phải phụ trách dân vận”.
Để làm đúng công tác dân vận, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải thực hiện chặt chẽ các bước từ tuyên truyền, vận động đến tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá. “Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được”; tiếp đó, “bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân”, rồi “động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành”; trong quá trình thực hiện phải “theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân”; và khi hoàn thành cần “cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”5. Người cũng nhấn mạnh cán bộ phụ trách dân vận phải sâu sát thực tiễn, gần dân, trọng dân, phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”.
Từ “cẩm nang” dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta không ngừng phát triển tư duy về công tác dân vận. Trong bối cảnh mới với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi số, quản trị hiện đại và những biến động xã hội ngày càng phức tạp, vai trò của Nhân dân tiếp tục được khẳng định là trung tâm và chủ thể của quá trình phát triển. Trên cơ sở đó, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh và phát triển định hướng công tác dân vận trong giai đoạn mới.
Đại hội XIV của Đảng ghi nhận những kết quả tích cực: “Công tác dân vận được tăng cường, góp phần thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Chú trọng đối thoại, lắng nghe ý kiến, kịp thời giải quyết những bức xúc, kiến nghị chính đáng của Nhân dân, phát huy vai trò của Nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng”.
Bên cạnh những kết quả đạt được, văn kiện Đại hội XIV cũng chỉ ra “công tác dân vận còn những hạn chế”; “việc tiếp nhận và giải quyết kiến nghị của người dân và doanh nghiệp tại một số bộ, ngành, chính quyền địa phương còn chậm, chưa thoả đáng, gây nên những bức xúc kéo dài”; “việc bảo vệ quyền lợi nhân dân của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có nơi còn lúng túng, chất lượng chưa cao”; “quyền làm chủ của Nhân dân chưa được thể chế hóa đầy đủ, có lúc, có nơi còn bị vi phạm”.
Trên cơ sở “kiểm thảo” lại để “hiểu thấu” tình hình công tác dân vận, Đại hội XIV cũng xác định phương hướng: “Đổi mới công tác dân vận, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”. Trên cơ sở đó “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động Nhân dân”; “Phát huy vai trò, sự tham gia của Nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”; “Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc Nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên”; “Gắn công tác dân vận với thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nhất là từ cơ sở”; “Đổi mới phương thức lãnh đạo, vận động, tập hợp và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách về dân tộc, tôn giáo, tăng cường xây dựng lực lượng nòng cốt là người có uy tín trong dân tộc, tôn giáo” và “chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, xử lý dứt điểm những điểm nóng, vụ việc phức tạp”.
Từ “Hiểu thấu” đến “Làm đúng” về công tác dân vận trong bối cảnh mới - góc nhìn từ thành phố Đà Nẵng
Sau sáp nhập, với đặc điểm địa bàn rộng, dân cư đa dạng và yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, công tác dân vận tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, công tác dân vận tại thành phố Đà Nẵng từng bước được triển khai theo hướng gần dân, sát dân, phục vụ Nhân dân tốt hơn; qua đó thể hiện sự vận dụng tinh thần “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và yêu cầu phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong tinh thần Đại hội XIV của Đảng. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ nhất xác định rõ yêu cầu: “Tăng cường công tác dân vận với phương châm “Chủ động, đổi mới, trách nhiệm, thực chất”; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân”, đồng thời cụ thể hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong thực tiễn quản lý và phục vụ Nhân dân.
Thực tiễn cho thấy, công tác dân vận tại thành phố Đà Nẵng ngày càng chuyển từ tuyên truyền, vận động đơn thuần sang giải quyết trực tiếp những vấn đề thiết thân của Nhân dân. Thành phố chú trọng đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân; đẩy mạnh cải cách hành chính, công khai thủ tục, tiếp công dân, giải quyết kiến nghị; đồng thời phát huy dân chủ trong sắp xếp đơn vị hành chính, giải phóng mặt bằng và triển khai các dự án trọng điểm. Phong trào thi đua “Dân vận khéo” tiếp tục được triển khai sâu rộng với hơn 2.147 mô hình, trong đó có 36 mô hình tiêu biểu cấp thành phố. Nhiều cách làm sáng tạo như “Ngày thứ sáu trong dân”, “Đảng viên phụ trách hộ gia đình ở khu vực biên giới”, “Đảng với Nhân dân”, “Lực lượng vũ trang thành phố đồng hành cùng Nhân dân tìm hiểu pháp luật”, hay các mô hình “10 ngàn - Vạn yêu thương”, “Hộ khá giúp hộ khó”, “Cán bộ, đảng viên đồng hành cùng hộ nghèo”... đã góp phần tạo đồng thuận xã hội và phát huy vai trò chủ động của Nhân dân trong phát triển địa phương.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, công tác dân vận của thành phố Đà Nẵng cũng có nhiều đổi mới về phương thức thực hiện. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội, fanpage cộng đồng trong tuyên truyền, tiếp nhận phản ánh, tổ chức hội nghị trực tuyến và cải cách hành chính góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và hiệu quả tương tác giữa chính quyền với người dân. Các chương trình như “Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân”, hỗ trợ đồng bào dân tộc, tôn giáo, chăm lo an sinh xã hội và hỗ trợ Nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai tiếp tục củng cố niềm tin và tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Nhân dân với hệ thống chính trị.
Tuy nhiên, trong điều kiện địa bàn rộng, dân cư đa dạng và tổ chức bộ máy tiếp tục được sắp xếp, công tác dân vận tại thành phố Đà Nẵng vẫn đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn. Một số nội dung như nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, phát huy dân chủ ở cơ sở, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng và thích ứng với môi trường số vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để công tác dân vận thực sự “hiểu thấu” và “làm đúng” trong tình hình mới.
Trong thời gian tới, công tác dân vận tại thành phố Đà Nẵng cần tiếp tục được triển khai theo hướng “thực chất”, lấy “sự hài lòng và niềm tin của Nhân dân làm thước đo hiệu quả”. Trọng tâm là nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong đối thoại, giải quyết vấn đề từ cơ sở; đổi mới phương thức dân vận theo hướng gần dân, sát dân, chủ động nắm bắt dư luận xã hội; đẩy mạnh chuyển đổi số trong tuyên truyền, tiếp nhận và xử lý phản ánh của người dân theo phương châm hành động Đại hội XIV: “Thiết lập và vận hành hiệu quả hệ thống thông tin hai chiều giữa Nhà nước và người dân, thông qua các nền tảng số, truyền thông số, các công cụ lấy ý kiến nhân dân”. Cán bộ, đảng viên “thường xuyên giữ mối liên hệ mật thiết với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú”. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận có bản lĩnh, kỹ năng, tinh thần trách nhiệm và năng lực thích ứng với yêu cầu mới. Đây là điều kiện quan trọng để tinh thần dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh và Nghị quyết Đại hội XIV được hiện thực hóa trong đời sống xã hội tại thành phố Đà Nẵng.
“Hiểu thấu” để “làm đúng” không chỉ là yêu cầu của công tác dân vận mà còn là thước đo năng lực lãnh đạo, quản trị và trách nhiệm phục vụ Nhân dân của hệ thống chính trị. Trong bối cảnh mới, công tác dân vận cần ngày càng đi vào chiều sâu, bắt đầu từ sự thấu hiểu, tôn trọng và hành động vì Nhân dân. Với tinh thần đổi mới, gần dân, lấy Nhân dân làm trung tâm, thành phố Đà Nẵng đã và đang cụ thể hóa tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tinh thần Đại hội XIV bằng những việc làm thiết thực, góp phần củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận xã hội và khơi dậy động lực phát triển. Qua đó, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Thực tiễn cho thấy, khi thật sự “hiểu thấu” lòng dân thì mới “làm đúng”, để “Nhân dân thấy, Nhân dân tin, Nhân dân ủng hộ, Nhân dân đồng hành và Nhân dân thụ hưởng”./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1), (2), (3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh toàn tập: Tập 6, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 232-234.
(7) (8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.56, tr.68-69.
(9) Nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ I của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
(10) Bài “Động lực phát triển từ “Dân vận khéo” (đăng trên Báo Đà Nẵng điện tử, ngày 17/4/2026).
TS. Trần Thúy Hiền- Trường Chính trị TP Đà Nẵng