Thu hẹp khoảng cách số, mở rộng cơ hội phát triển

Tác giả: Lê Thị Thu Thảo - Giảng viên trường Chính trị thành phố Đà Nẵng

Chuyển đổi số chỉ thực sự hoàn thành sứ mệnh khi các thành tựu công nghệ được chuyển hóa thành cơ hội phát triển công bằng cho mọi tầng lớp nhân dân. Từ khí thế của phong trào “Bình dân học vụ” năm 1945 đến yêu cầu cấp bách của “Bình dân học vụ số” hôm nay, dòng chảy lịch sử vẫn đặt ra một đòi hỏi nhất quán: nâng cao năng lực làm chủ của nhân dân, kiên quyết không để khoảng cách về kỹ năng và khả năng tiếp cận công nghệ biến thành rào cản phát triển xã hội.

Từ xóa nạn mù chữ đến nâng cao năng lực làm chủ số

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đối mặt với tình cảnh hơn 90% dân số chưa biết chữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt việc diệt “giặc dốt” vào hàng ngũ những nhiệm vụ cấp bách hàng đầu. Người khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”[1]. Đằng sau yêu cầu biết đọc, biết viết là mục tiêu nâng cao dân trí, bởi dân trí là điều kiện để người dân thực thi quyền dân chủ, tự giác tiếp nhận tri thức mới và tham gia vào sự nghiệp kiến thiết nước nhà.

 

Kết quả của phong trào Bình dân học vụ năm xưa không chỉ đo đếm bằng những con số thống kê người thoát nạn mù chữ, mà chính là sự mở rộng quyền làm chủ thật sự của người dân. Có chữ, người dân mới tự mình nắm bắt chủ trương, chính sách, áp dụng phương thức sản xuất tiến bộ và thực thi đầy đủ quyền công dân mà không phải lệ thuộc vào người khác. Khi đó, tri thức trực tiếp tạo dựng nên năng lực tự thân và sức bật phát triển của mỗi con người.

 

Hơn tám thập niên trôi qua, bối cảnh thời đại đã biến chuyển sâu sắc nhưng bản chất của bài toán “năng lực làm chủ” vẫn vẹn nguyên tính thời sự. Khi dịch vụ công, giao thương, học tập, chăm sóc sức khỏe và cơ hội việc làm đồng loạt dịch chuyển lên không gian mạng, người thiếu kỹ năng số sẽ lập tức rơi vào thế yếu: dịch vụ hiện hữu nhưng khó chạm tới, thông tin tràn ngập nhưng thiếu năng lực kiểm chứng, quyền lợi số bày sẵn nhưng không thể tự mình thụ hưởng.

 

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định: “Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính” [2]. Quán triệt tinh thần đó và chủ trương triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” [3] trên phạm vi cả nước, việc phổ cập năng lực số ngày nay không thể dừng lại ở việc phổ biến hạ tầng hay thiết bị, mà phải là cuộc vận động sâu rộng nhằm bồi đắp “năng lực số thực chất”, bảo đảm mọi người dân đều có đủ điều kiện chủ động tham gia và bình đẳng thụ hưởng thành quả phát triển.

 

Khoảng cách số không dừng lại ở hạ tầng Internet

 

Khi bàn về khoảng cách số, cách tiếp cận cơ học lâu nay thường dừng lại ở mức độ chênh lệch về thiết bị, tốc độ đường truyền hay độ phủ sóng viễn thông. Hạ tầng kỹ thuật là nền tảng tất yếu, nhưng tuyệt đối chưa đủ. Thực tế cho thấy, khoảng cách số đang phân hóa thành nhiều tầng nấc sâu sắc hơn: từ việc có kết nối hay không; đến có biết sử dụng hay không; có đủ năng lực tự bảo vệ mình trước rủi ro mạng hay không; và cao nhất là có khả năng chuyển hóa công nghệ thành giá trị thiết thực cho sinh kế, việc làm và chất lượng sống hay không. Cách tiếp cận này tương đồng với quan niệm “kết nối phổ cập và có ý nghĩa” của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), trong đó kỹ năng số và an toàn số là những điều kiện thiết yếu bên cạnh hạ tầng, thiết bị và khả năng chi trả [4].

 

Một người sở hữu điện thoại thông minh nhưng lúng túng trước cổng dịch vụ công trực tuyến vẫn đang đứng bên lề của chính quyền số. Một hộ sản xuất có đường truyền Internet nhưng chưa biết khai thác thanh toán không tiền mặt hay mở rộng thị trường số thì cơ hội sinh kế vẫn giậm chân tại chỗ. Một công dân có tài khoản định danh điện tử nhưng mọi thao tác đều phải trông cậy vào người làm hộ thì quyền làm chủ số vẫn chưa thành hình độc lập. Đặc biệt, sự thiếu hụt kỹ năng nhận diện lừa đảo trực tuyến, thông tin giả mạo và bảo vệ dữ liệu cá nhân đang tạo ra những tổn thương xã hội khó lường.

Đáng lo ngại hơn, các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương - người yếu thế, người cao tuổi, lao động tự do và đồng bào vùng sâu, vùng xa - đang phải chịu sự bất lợi kép: vừa thiếu thốn thiết bị, vừa hạn chế kỹ năng và thiếu vắng mạng lưới hỗ trợ trực tiếp. Nếu tiến độ số hóa dịch vụ vận hành nhanh hơn quá trình trang bị năng lực số cho nhân dân, hố ngăn cách công nghệ sẽ nhanh chóng đào sâu thêm bất bình đẳng xã hội về tiếp cận dịch vụ, cơ hội việc làm và an sinh.

 

Bởi vậy, tỷ lệ phủ sóng mạng cao không đồng nghĩa với một xã hội số bao trùm. Thước đo căn bản và nhân văn nhất phải là người dân làm chủ được gì trên hạ tầng ấy và đời sống của họ thực sự chuyển biến ra sao. Đó chính là lý do đòi hỏi phong trào “Bình dân học vụ số” phải chuyển biến căn bản: từ tuyên truyền nhận thức sang đào tạo kỹ năng thực chiến; từ “biết công nghệ” sang “dùng được và làm chủ công nghệ”; đồng thời kịp thời cập nhật các tri thức nền tảng về an toàn thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI) ứng dụng.

 

Đưa năng lực số về tận địa bàn cơ sở

 

Để thu hẹp khoảng cách số, cốt lõi nằm ở sự đồng bộ giữa mở rộng hạ tầng công nghệ và bồi dưỡng năng lực con người. Các chương trình phổ cập kỹ năng phải được thiết kế tinh gọn, trực quan, bám sát hơi thở đời sống và thích ứng linh hoạt với từng nhóm đối tượng cụ thể: người cao tuổi cần phương pháp trực quan, dễ nhớ; hộ kinh doanh cần kỹ năng thương mại số và an toàn giao dịch; thanh niên cần tư duy đổi mới sáng tạo; vùng nông thôn, miền núi cần các giải pháp gắn liền với chuỗi giá trị nông sản và sinh kế địa phương.

 

Thực tiễn từ cơ sở, tiêu biểu là mô hình Tổ công nghệ số cộng đồng, cho thấy một hướng đi thiết thực để “bình dân hóa” chuyển đổi số. Tại Đà Nẵng, Kế hoạch số 50/KH-UBND ngày 9/2/2026 xác định việc đưa nền tảng số, công nghệ số, kỹ năng số đến người dân thông qua các tổ này [5]. Ở xã Phước Chánh, thành phố Đà Nẵng trong kế hoạch hoạt động năm 2026 nhấn mạnh phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người”[6]; tập trung hỗ trợ người dân sử dụng VNeID, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và bảo đảm an toàn thông tin. Từ cách làm đó, thành công không nên chỉ được đo bằng số lượng ứng dụng đã tải về, mà quan trọng hơn là mức độ người dân tự thao tác được, giảm sự phụ thuộc vào người khác và tự tin làm chủ thiết bị của mình.

 

Từ thực tế sinh động đó, công cuộc phổ cập kỹ năng số hiện nay đòi hỏi ba chuyển dịch mang tính nguyên tắc:

Từ “phổ cập công cụ” sang “phổ cập năng lực”: Kiên quyết từ bỏ thói quen chạy theo số lượng cài đặt ứng dụng; lấy hiệu quả sử dụng thực tế và mức độ hài lòng của nhân dân làm tiêu chí đánh giá sau cùng.

 

Từ “đào tạo đồng loạt” sang “hỗ trợ phân tầng”: Chủ động nhận diện các nhóm đối tượng có nguy cơ bị tụt hậu để tập trung nguồn lực, xây dựng cơ chế hỗ trợ đặc thù và kiên trì kèm cặp.

 

Từ “học một lần” sang “học tập suốt đời”: Trong kỷ nguyên công nghệ thay đổi từng ngày, năng lực số cốt lõi nhất không phải là ghi nhớ cách dùng một ứng dụng đơn lẻ, mà là bồi đắp tư duy thích ứng, khả năng tự học và phản xạ tự bảo vệ an toàn trên không gian số.

 

Song hành với nâng cao năng lực người dùng, trách nhiệm của các cơ quan quản lý và đơn vị phát triển nền tảng là phải tối ưu hóa thiết kế dịch vụ. Chuyển đổi số lấy người dân làm trung tâm không thể đặt toàn bộ gánh nặng thích nghi lên vai người thụ hưởng. Một hệ thống hành chính số rườm rà, giao diện phức tạp hay thiếu vắng cơ chế hỗ trợ tương tác sẽ vô tình dựng lên những rào cản ngăn trở người yếu thế. Dịch vụ số phải thực sự đơn giản, tiện ích và nhân văn ngay từ khâu thiết kế.

***

Nếu như phong trào Bình dân học vụ năm 1945 đã trao con chữ để hàng triệu người dân bước vào vị thế làm chủ của một quốc gia độc lập, thì “Bình dân học vụ số” hôm nay mang sứ mệnh lịch sử trao gửi năng lực và kỹ năng để mọi người dân tự tin bước vào kỷ nguyên số. Trong bước tiến vũ bão của khoa học và công nghệ, yêu cầu sống còn không chỉ là đi thật nhanh, mà là bảo đảm không một ai bị bỏ lại phía sau. Thu hẹp khoảng cách số, xét đến cùng, chính là hiện thực hóa mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đưa công nghệ trở thành đòn bẩy giải phóng tiềm năng và mở rộng cơ hội phát triển cho mọi người dân.

Chú thích:

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.8;

[2] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, mục I, điểm 2;

[3] Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW ngày 21/3/2025 về triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”;

[4] International Telecommunication Union (ITU), Global Connectivity Report 2025, chương 1 và chương 5; báo cáo phân tích sáu điều kiện kết nối có ý nghĩa, trong đó có kỹ năng và an toàn số;

[5] Kế hoạch 50/KH-UBND ngày 09-02-2026 triển khai hoạt động của Tổ Công nghệ số cộng đồng (CNSCĐ) và Đề án 06 trên địa bàn thành phố năm 2026;

[6] Cổng TTĐT xã Phước Chánh, “Phước Chánh triển khai Kế hoạch hoạt động của Tổ Công nghệ số cộng đồng năm 2026”. https://phuocchanh.danang.gov.vn/vi/web/xa-phuoc-chanh/w/phuoc-chanh-trien-khai-ke-hoach-hoat-dong-cua-to-cong-nghe-so-cong-dong-nam-2026.

 

 

Các tin cũ hơn:

Liên kết Website