A+ | A | A-

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN- NỀN TẢNG LÝ LUẬN CHO CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG THỜI ĐẠI MỚI

Tác giả: Nguyễn Thị Hiệp

Trong toàn bộ di sản tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho cách mạng Việt Nam, tư tưởng về công tác dân vận giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, xuyên suốt và có giá trị bền vững. Không chỉ là những chỉ dẫn mang tính phương pháp, tư tưởng dân vận của Người còn là kết tinh của một triết lý chính trị sâu sắc: lấy dân làm gốc, coi nhân dân là chủ thể tối cao của mọi sự nghiệp cách mạng. Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc nghiên cứu, thấm nhuần và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận có ý nghĩa đặc biệt cấp thiết.

 

Đỉnh cao của tư tưởng dân vận được thể hiện cô đọng trong bài báo “Dân vận” (1949). Ở đó, Người không chỉ lý giải dân vận là gì mà còn chỉ ra ai phải làm dân vận, làm như thế nào và nhằm mục đích gì. Theo Hồ Chí Minh, dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một ai, nhằm thực hiện những nhiệm vụ chung của cách mạng. Đây là một quan niệm toàn diện, bao hàm cả tuyên truyền, tổ chức, giáo dục và phục vụ nhân dân.

 

Điểm đặc sắc trong tư tưởng của Người là sự thống nhất giữa lời nói và hành động. Người yêu cầu cán bộ làm công tác dân vận phải thực sự “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”. Sáu chữ “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm” không chỉ là phương châm hành động mà còn là chuẩn mực đạo đức của người cán bộ cách mạng.

 

Hình ảnh Bác Hồ thăm bà con nông dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang

 

Những giá trị cốt lõi của tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh. Trước hết, đó là quan điểm “dân là gốc”. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh rằng mọi đường lối, chính sách đều phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân. Dân không chỉ là đối tượng phục vụ mà còn là chủ thể sáng tạo lịch sử. Sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ sự đồng thuận và tham gia tích cực của nhân dân. Thứ hai, dân vận là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị. Người phê phán tư tưởng coi dân vận là việc riêng của một số cơ quan, tổ chức. Theo Người, từ Đảng, Nhà nước đến các đoàn thể, từ cán bộ lãnh đạo đến công chức, viên chức – tất cả đều phải làm dân vận. Thứ ba, phương pháp dân vận phải khoa học, linh hoạt và giàu tính nhân văn. Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh việc tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến của dân, chống mọi biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tiễn. Dân vận không phải là áp đặt mà là thuyết phục; không phải là khẩu hiệu mà là hành động cụ thể, thiết thực. Thứ tư, mục tiêu cao nhất của công tác dân vận là củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đây là nguồn gốc sức mạnh, là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triển của chế độ.

 

Bước vào kỷ nguyên mới- “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” và bối cảnh chuyển đổi số,  công tác dân vận đang đứng trước những yêu cầu mới. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với tác động của toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đã làm thay đổi sâu sắc đời sống kinh tế – xã hội và tâm lý của các tầng lớp nhân dân.

 

Một mặt, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu tham gia quản lý xã hội, tiếp cận thông tin và bày tỏ chính kiến cũng ngày càng lớn. Mặt khác, những vấn đề như chênh lệch giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, tham nhũng, tiêu cực, thông tin xấu độc trên không gian mạng… đang tác động trực tiếp đến niềm tin của nhân dân.

 

Trong bối cảnh đó, nếu công tác dân vận không được đổi mới kịp thời sẽ khó có thể đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thậm chí có thể làm suy giảm mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân.

 

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác dân vận trong bối cảnh mới,  những năm qua, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm coi công tác dân vận là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự quan tâm đó không chỉ thể hiện ở chủ trương, nghị quyết mà còn được cụ thể hóa bằng những hành động thiết thực trong toàn bộ hệ thống chính trị. Vì thế, đạt nhiều thành tựu nổi bật trong lĩnh vực này. Trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ: “Công tác dân vận được quan tâm và có bước đổi mới cùng với việc ban hành, thực hiện nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, xoá đói, giảm nghèo; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Áp dụng nhiều hình thức vận động, tập hợp Nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng Nhà nước và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân”.

 

Tuy nhiên, Đảng ta cũng mạnh dạn chỉ ra những hạn chế cần khắc phục trong công tác dân vận như: việc triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận ở một số cấp uỷ còn kém hiệu quả. Công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục Nhân dân có lúc, có nơi còn hình thức, hiệu quả chưa cao, xa rời thực tế, chưa sát với trình độ, phong tục, tập quán của người dân. Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; công tác tập hợp, phát triển đoàn viên, hội viên; việc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Một số chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ban hành nhưng chưa cân đối nguồn lực để thực hiện và chưa thực sự gắn với thực tế đời sống của người dân nên bộc lộ nhiều bất cập. Vai trò cầu nối của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước ở một số địa phương, cơ sở chưa rõ nét. Chưa phát huy tối đa vai trò của Nhân dân tham gia giám sát, phản biện xã hội.

 

Để vận dụng sáng tạo những giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần tập trung vào các giải pháp sau:

 

Một là, tiếp tục khẳng định và thực hiện nhất quán quan điểm “lấy dân làm trung tâm” trong hoạch định và thực thi chính sách. Mọi chủ trương, quyết sách phải hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, đồng thời tạo điều kiện để người dân tham gia vào quá trình xây dựng và giám sát chính sách.

 

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải tặng quà Tết gia đình chính sách, có công với cách mạng xã Tam Xuân, TP Đà Nẵng.

 

Hai là, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức dân vận. Trong thời đại số, công tác dân vận không thể chỉ dừng lại ở những phương thức truyền thống mà cần tận dụng hiệu quả các nền tảng công nghệ, mạng xã hội để tương tác, lắng nghe và định hướng dư luận xã hội một cách kịp thời, chính xác.

 

 

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận “vừa hồng, vừa chuyên”. Đây là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả của công tác dân vận. Cán bộ không chỉ cần có năng lực chuyên môn mà còn phải có đạo đức, trách nhiệm, phong cách gần dân, nói đi đôi với làm.

 

Bốn là, tăng cường đối thoại, minh bạch thông tin và giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc của Nhân dân. Thực tiễn cho thấy, ở đâu chính quyền gần dân, lắng nghe dân, ở đó niềm tin của nhân dân được củng cố.

 

Năm là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong việc tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt trong bối cảnh xã hội ngày càng đa dạng về lợi ích và nhu cầu.

 

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận không chỉ là kim chỉ nam cho hoạt động của hệ thống chính trị mà còn là nền tảng để xây dựng mối quan hệ bền chặt giữa Đảng với Nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng đó đòi hỏi sự đổi mới toàn diện cả về nhận thức và hành động. Chỉ khi nào công tác dân vận thực sự đi vào chiều sâu, xuất phát từ lợi ích thiết thực của Nhân dân và được thực hiện bằng tinh thần trách nhiệm cao nhất, thì khi đó mới có thể phát huy được sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc – nguồn lực quyết định cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong thời kỳ mới.

 

Nguyễn Thị Hiệp - Trường Chính trị TP Đà Nẵng

 

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Tin Mới

Liên kết Website