A+ | A | A-

PHÁT HUY SỨC DÂN TỪ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN GẦN DÂN, PHỤC VỤ NHÂN DÂN

Tác giả: Ths. Cao Trần Thanh Tâm - Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng

Trong quá trình chuyển đổi từ “quản lý” sang “phục vụ”, Mặt trận giữ vai trò quan trọng trong tuyên truyền, tạo đồng thuận xã hội, phát huy dân chủ, giám sát – phản biện xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trang thông tin điện tử MTTQ Việt Nam thành phố giới thiệu bài viết “Phát huy sức dân, góp phần xây dựng chính quyền hai cấp theo hướng gần dân, phục vụ Nhân dân”. Bài viết đặt ra một số vấn đề và đề xuất giải pháp đổi mới hoạt động của Mặt trận nhằm nâng cao hiệu quả trong giai đoạn hiện nay.

 

1. Đặt vấn đề

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia, lấy người dân làm trung tâm phục vụ.

 

Mô hình chính quyền hai cấp đang được thúc đẩy nhằm giảm tầng nấc trung gian, tăng tính trực tiếp trong quản lý, điều hành và nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Đây là bước đi phù hợp với yêu cầu đổi mới phương thức quản trị theo hướng hiện đại, minh bạch và hiệu quả. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi tư duy từ “quản lý” sang “phục vụ” trở thành yêu cầu xuyên suốt, gắn với phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và vai trò chủ thể của nhân dân. Việc phát huy “sức dân” là yếu tố quyết định thành công của cải cách.

 

Trong hệ thống chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò trung tâm trong tập hợp, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời thực hiện giám sát và phản biện xã hội, góp phần xây dựng chính quyền gần dân, vì dân.

 

2. Yêu cầu xây dựng chính quyền gần dân, phục vụ Nhân dân trong giai đoạn hiện nay.

 

Một yêu cầu mang tính xuyên suốt trong tiến trình cải cách bộ máy nhà nước hiện nay là kiên quyết chuyển đổi tư duy quản trị từ “quản lý hành chính” sang “nhà nước phục vụ”, lấy người dân làm trung tâm, chủ thể và mục tiêu của mọi hoạt động công quyền. Tinh thần này tiếp tục được nhấn mạnh trong định hướng Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam".

 

Trên cơ sở đó, xây dựng chính quyền gần dân, sát dân, hiểu dân và vì dân không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là nguyên tắc cốt lõi trong vận hành mô hình chính quyền hai cấp hiện nay. Theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV, chính quyền phải chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “phục vụ”, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả hoạt động. Bộ máy chính quyền không chỉ quản lý, điều hành mà phải thực sự đồng hành, hỗ trợ, kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh từ cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ.

 

3. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phát huy sức dân

 

Tạo đồng thuận xã hội trong thực hiện chủ trương đổi mới.

 

 Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Với vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm tuyên truyền, vận động, tạo sự thống nhất giữa “ý Đảng” và “lòng dân” trong xây dựng mô hình chính quyền hai cấp. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh: ““Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới”. Qua đó nhấn mạnh đồng thuận xã hội là nền tảng quan trọng để xây dựng chính quyền gần dân, phục vụ nhân dân.

 

Phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân.

 

Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời là mục tiêu và động lực của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định:“Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân". Theo Hiến pháp năm 2013, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân đến cơ quan nhà nước. Thông qua đối thoại, giám sát và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, Mặt trận góp phần phát huy thực chất quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng chính quyền cơ sở. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

 

Giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của chính quyền.

 

Hiến pháp năm 2013 khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có chức năng giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Trong mô hình chính quyền hai cấp hiện nay, Mặt trận giữ vai trò giám sát việc thực hiện chính sách, đạo đức công vụ và thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức; đồng thời phản biện các chính sách liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhân dân, góp phần xây dựng chính quyền liêm chính, minh bạch, vì nhân dân phục vụ.

 

Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

 

Trong bối cảnh đổi mới tổ chức chính quyền và vận hành mô hình chính quyền hai cấp hiện nay, sự đa dạng về lợi ích, nhận thức và tâm lý xã hội dễ phát sinh những vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải phát huy mạnh mẽ vai trò “tập hợp”, “gắn kết” và “đồng thuận xã hội” của Mặt trận. Thông qua hoạt động vận động quần chúng, hòa giải ở cơ sở, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, Mặt trận góp phần hạn chế mâu thuẫn xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với chính quyền và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân …”[5];  Đây không chỉ là yêu cầu chính trị có tính lâu dài mà còn là nền tảng quan trọng bảo đảm ổn định chính trị – xã hội và phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn hiện nay.

 

3. Những vấn đề đặt ra trong tổ chức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay.

 

Trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng mô hình chính quyền hai cấp theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày càng được khẳng định. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn không ít khó khăn, hạn chế cần được nhìn nhận thẳng thắn.

 

Một là, trong quá trình vận hành mô hình chính quyền hai cấp hiện nay, đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở một số nơi chưa theo kịp yêu cầu đổi mới hoạt động theo hướng gần dân, sát dân. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả phát huy vai trò của Mặt trận trong xây dựng chính quyền phục vụ nhân dân.

 

Hai là, hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở một số nơi vẫn còn biểu hiện hình thức, thiếu chiều sâu, chưa theo kịp những vấn đề thực tiễn đặt ra trong điều kiện tổ chức chính quyền hai cấp. Nhiều hoạt động giám sát còn mang tính phối hợp, chưa phát huy hiệu quả giám sát độc lập đối với các vấn đề người dân quan tâm như đất đai, cải cách thủ tục hành chính hay đạo đức công vụ.

 

Ba là, việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân ở cơ sở có nơi chưa theo kịp sự thay đổi của mô hình tổ chức chính quyền hiện nay. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ: “Công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục Nhân dân có lúc, có nơi còn hình thức, hiệu quả chưa cao, xa rời thực tế, chưa sát với trình độ, phong tục, tập quán của người dân”[6]. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, địa bàn quản lý rộng hơn nhưng việc đối thoại, tiếp xúc với nhân dân ở một số nơi còn thiếu thường xuyên, khiến người dân chưa thật sự được cung cấp đầy đủ thông tin và tham gia góp ý những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình.

 

Bốn là, cơ chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với chính quyền ở một số địa phương chưa thật sự đồng bộ, chặt chẽ. Trong khi mô hình chính quyền hai cấp đòi hỏi sự phối hợp nhanh, linh hoạt và rõ trách nhiệm hơn thì ở một số nơi vẫn còn tình trạng chồng chéo, thiếu gắn kết trong xử lý công việc, nhất là đối với các vấn đề phát sinh từ cơ sở. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phát huy dân chủ, tạo đồng thuận xã hội và xây dựng chính quyền thực sự gần dân, vì nhân dân phục vụ.

 

4. Giải pháp phát huy vai trò của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam trong thời gian tới.

 

Thứ nhất, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động theo hướng bám cơ sở, sát dân, thích ứng với mô hình chính quyền hai cấp. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần chuyển mạnh từ phương thức hành chính sang “gần dân, trọng dân, hiểu dân”, tăng cường xuống cơ sở, kịp thời nắm bắt và phản ánh những vấn đề phát sinh từ đời sống nhân dân. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của người dân qua các nền tảng trực tuyến, nhóm cộng đồng, đường dây nóng; đổi mới công tác tuyên truyền theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu, sát thực tiễn, tránh hình thức, khẩu hiệu hóa.

 

Thứ hai, nâng cao chất lượng giám sát và phản biện xã hội theo hướng thực chất, có trọng tâm, trọng điểm. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần tập trung giám sát những vấn đề người dân quan tâm như thủ tục hành chính, đất đai, an sinh xã hội, đạo đức công vụ; tăng cường giám sát độc lập, giám sát đột xuất đối với các vụ việc nổi cộm, kéo dài. Đồng thời, phát huy vai trò của chuyên gia, trí thức, người có uy tín tham gia phản biện các chủ trương, chính sách liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân.

 

Thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận đáp ứng yêu cầu của chính quyền phục vụ. Đội ngũ cán bộ Mặt trận cần vững bản lĩnh chính trị, giỏi kỹ năng dân vận, đối thoại và xử lý tình huống từ cơ sở; khắc phục tình trạng thiếu sâu sát, chậm nắm bắt dư luận xã hội. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo kỹ năng tiếp dân, phản biện xã hội, ứng dụng công nghệ số; chú trọng lựa chọn cán bộ có uy tín, am hiểu địa bàn và nói được tiếng nói của nhân dân.

 

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Mặt trận với chính quyền trong mô hình chính quyền hai cấp. Cần xây dựng cơ chế phối hợp rõ trách nhiệm trong tiếp nhận, xử lý và phản hồi kiến nghị của nhân dân; khắc phục tình trạng đùn đẩy, chậm giải quyết. Đồng thời, tăng cường đối thoại trực tiếp giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân dưới sự phối hợp của Mặt trận; nâng cao trách nhiệm giải trình và tiếp thu các kiến nghị sau giám sát nhằm bảo đảm mọi ý kiến chính đáng của nhân dân được lắng nghe, xử lý kịp thời.

 

Thứ năm, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng “thế trận lòng dân” ở cơ sở. Mặt trận cần chủ động nắm tình hình nhân dân, tăng cường đối thoại tại cơ sở, kịp thời phản ánh những vấn đề phát sinh liên quan đến đời sống dân sinh. Đồng thời, phát huy vai trò của người có uy tín, tổ hòa giải, ban công tác Mặt trận trong tuyên truyền, vận động và tạo đồng thuận xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”; vì vậy, củng cố “thế trận lòng dân” là nền tảng để xây dựng chính quyền gần dân, vì nhân dân phục vụ.

 

KẾT LUẬN

 

Phát huy sức dân từ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chính là phát huy nền tảng vững chắc nhất của chế độ, là điều kiện quyết định để xây dựng chính quyền thực sự gần dân, trọng dân, vì nhân dân phục vụ. Trong bối cảnh đổi mới mô hình chính quyền hai cấp hiện nay, càng phải khẳng định rõ: ở đâu Mặt trận sâu sát cơ sở, phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân, ở đó đồng thuận xã hội được củng cố, “thế trận lòng dân” được giữ vững và chính quyền hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây không chỉ là yêu cầu của cải cách hành chính mà còn là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiến lược nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I,II, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội.

 

2. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, các tập 6, 10, 15,, Hà Nội.

 

3. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

 

4. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

 

5. Bộ Chính trị (2013), Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội, Hà Nội.

 

[1] Đảng cộng sản Việt Nam (2026): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II, tr.382.

[2] Hồ Chí Minh (2011):  Toàn tập,  Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.280.

[3] Đảng cộng sản Việt Nam (2026): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II, tr.382.

[4] Hồ Chí Minh (2011):  Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 6, tr.232

[5] Đảng cộng sản Việt Nam (2026): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II, tr.374.

[6] Đảng cộng sản Việt Nam (2026): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II, tr.171.

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Tin Mới

Liên kết Website