E Magazine

Giải pháp an cư vùng thiên tai

Hàng nghìn hộ dân ở vùng núi, ven sông và khu vực có nguy cơ sạt lở của Đà Nẵng đang cần một phương án an cư đủ an toàn, đủ điều kiện sống lâu dài. Đề án sắp xếp, ổn định dân cư miền núi, vùng thiên tai giai đoạn 2026 - 2030 vì thế phải tính kỹ đối tượng, vị trí, hạ tầng, sinh kế, thứ tự ưu tiên và nguồn lực thực hiện.

Chọn đúng nơi, đúng cách

Bố trí dân cư chỉ hiệu quả khi xác định đúng hộ cần di dời, chọn được nơi an toàn và hình thức phù hợp. Với địa hình, thiên tai và quỹ đất khác nhau giữa từng vùng, Đà Nẵng phải tính kỹ phương án trước khi đầu tư khu dân cư mới.

Tính toán cách bố trí

Theo dự thảo Đề án sắp xếp, ổn định dân cư miền núi, vùng thiên tai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, giai đoạn 2026 - 2030, đến ngày 19/8/2026, nhu cầu sắp xếp, ổn định dân cư được tổng hợp tại 58 trong tổng số 94 xã, phường, đặc khu với 8.739 hộ. Trong đó có 6.385 hộ dự kiến bố trí tập trung, 1.752 hộ xen ghép và 602 hộ ổn định tại chỗ. Tuy nhiên, cũng cần tách rõ mức độ cấp bách tại nơi ở với mức độ phù hợp của nơi dự kiến đưa dân đến.

8.739 HỘ

Tổng số hộ cần sắp xếp

Tổng hợp tại 58 trong tổng số 94 xã, phường, đặc khu.

6.385 HỘ

Dự kiến bố trí tập trung

Áp dụng cho những khu vực rủi ro cao hoặc rất cao.

1.752 HỘ

Dự kiến bố trí xen ghép

Đưa vào khu dân cư hiện hữu an toàn gần đất sản xuất.

602 HỘ

Ổn định tại chỗ

Kiểm soát bằng gia cố nền, thoát nước, chống sạt lở.

 

Ở miền núi, việc bố trí các khu tái định cư cần tính toán kỹ nhiều phương án để người dân có thể "an cư, lạc nghiệp". TRONG ẢNH: Khu dân cư Tăk Pu, thôn 5, xã Trà Linh. Ảnh: PHAN VINH

TS. Nguyễn Ngọc Thế, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ, kinh tế và thủy lợi miền Trung (đơn vị thực hiện đề án) cho biết, một khu dân cư đang ở nơi nguy hiểm chưa đồng nghĩa phải lập ngay một khu tái định cư tập trung. Các hộ phân tán có thể bố trí xen ghép vào khu dân cư hiện hữu, những nơi nguy cơ còn khả năng kiểm soát bằng gia cố nền, thoát nước, chống sạt lở để ổn định tại chỗ. Tái định cư tập trung được tính cho những khu vực rủi ro cao hoặc rất cao, nơi các giải pháp tại chỗ không còn bảo đảm an toàn.

“Điều kiện của một làng miền núi nằm dưới ta luy, một cụm dân cư ven suối khác với khu vực thường xuyên ngập ở vùng thấp. Ngay trong một xã, từng nhóm hộ cũng có thể cần cách xử lý khác nhau. Việc chọn hình thức phải đi sau đánh giá rủi ro, quỹ đất, hạ tầng, sinh kế và nguyện vọng của người dân”, TS. Nguyễn Ngọc Thế nói.

 

Một điểm sạt lở trên địa bàn xã Trà Đốc. Ảnh: XUÂN TRỰC

Ông Phan Duy Hưng, Chủ tịch UBND xã Trà Đốc cho biết, qua khảo sát mới nhất, địa phương xác định khoảng 251 hộ với 1.220 nhân khẩu ở 8 thôn có nguy cơ sạt lở, nhiều khu nằm dưới chân núi, một số nơi đã xuất hiện vết nứt. Xã đề xuất hai khu dân cư tập trung tại thôn 2 và thôn 8, dự kiến đáp ứng khoảng 50% nhu cầu, phần còn lại tính theo hướng xen ghép. Khi chuẩn bị phòng chống thiên tai năm 2026, Trà Đốc còn phát hiện cụm dân cư số 5 tại thôn 7 với khoảng 20 hộ có nguy cơ sạt lở, chưa có trong đề xuất ban đầu. Địa phương đề nghị cập nhật để tránh bỏ sót trong phân kỳ.

Ông Hưng nhìn nhận: “Địa bàn rộng, các hộ có nguy cơ lại phân bố ở nhiều thôn nên hai khu dân cư tập trung sẽ không thể giải quyết toàn bộ. Xã đang tính kết hợp giữa bố trí tập trung và xen ghép, khu nào đủ điều kiện thì chọn phương án phù hợp để hạn chế xáo trộn đời sống của người dân”.

Tại xã Nông Sơn, ông Trần Văn Đoàn, Phó Chủ tịch UBND xã cho hay, 134 hộ đang sống tại những khu vực có nguy cơ, từ dọc bờ sông Thu Bồn đến các khu dân cư dưới chân núi. Ba khu tái định cư tập trung được địa phương đề xuất có thể giải quyết khoảng 75% số hộ, phần còn lại bố trí xen ghép cho những gia đình có đất ở nơi an toàn hoặc muốn tiếp tục sinh sống gần đất sản xuất và người thân. Đó là cách địa phương giữ phương án sát thực tế.

 

Rà kỹ từng vị trí

Dự thảo yêu cầu một khu chỉ nên đưa vào danh mục đầu tư chính thức khi đã có danh sách hộ, tọa độ, ranh giới, hồ sơ hiện trạng đất đai, sự phù hợp quy hoạch, kết quả đánh giá sạt lở, lũ quét, ngập lụt, xói lở, thoát lũ, nguồn nước sinh hoạt và khả năng kết nối hạ tầng. Những điều kiện này đặc biệt khó ở miền núi, nơi quỹ đất bằng hạn chế.

Theo ông Đặng Văn Trà, Phó Chủ tịch UBND xã Trà Tập, khu dân cư Tăk Chay hiện được đưa vào nhóm hiện trạng, trong khi địa phương xác định vẫn còn 23 hộ cần một phương án bố trí mới sau khi 10 hộ đã được hỗ trợ khắc phục. Xã đề nghị cập nhật lại phụ lục để phần nhu cầu chưa giải quyết được tính đúng trong giai đoạn tới. Khó hơn là khu Răng Chuỗi. Người dân đã sinh sống, trồng quế, làm nương rẫy tại khu vực này từ lâu, nhưng khi đối chiếu bản đồ hiện trạng, phần đất dự kiến bố trí dân cư lại nằm trong quy hoạch rừng đặc dụng.

“Ở miền núi, tìm được một khu đất có mặt bằng phù hợp để bố trí dân cư rất khó. Khu Răng Chuỗi người dân đã sinh sống, trồng quế, làm nương rẫy từ lâu, nhưng trên hồ sơ lại nằm trong rừng đặc dụng. Nếu vấn đề này chưa được xử lý thì địa phương rất khó có cơ sở để triển khai sắp xếp dân cư”, ông Trà nói.

 

Lãnh đạo xã Trà Tập kiểm tra khu vực có nguy cơ sạt lở ở làng Răng Chuỗi. Ảnh: PHÚ THIỆN

Ông Từ Văn Khánh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng thông tin, qua đối chiếu hồ sơ quản lý ngành, trong 143 khu đề xuất mới có nhiều vị trí chồng lấn với quy hoạch lâm nghiệp, trong đó một số khu còn liên quan hiện trạng rừng tự nhiên. Dữ liệu ngành còn cho thấy ranh giới bản đồ số và diện tích trong hồ sơ chưa thống nhất, trong khi 143 khu mới chưa đồng nhất với 128 khu đã tích hợp vào quy hoạch.

“Có 18 khu theo hồ sơ quản lý ngành thuộc rừng tự nhiên với diện tích hơn 50ha. Đây là vướng mắc rất lớn, bởi những vị trí liên quan rừng tự nhiên thì khả năng triển khai sau này gần như không có. Nếu tiếp tục giữ trong danh mục rồi đến khi làm thủ tục mới phát hiện thì dự án sẽ dừng lại, mất thêm thời gian điều chỉnh”, ông Khánh nói.

Ở Sơn Cẩm Hà, câu hỏi về đúng đối tượng còn gắn với pháp lý nhà ở. Ông Hoàng Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã cho biết, có những hộ đang nằm trong vùng thiên tai uy hiếp nhưng nhà xây trên đất nông nghiệp, đất trồng cây lâu năm hoặc đất rừng. Địa phương vì vậy gặp khó khi xác định điều kiện hỗ trợ. Thực tế ấy cho thấy danh sách, vị trí và hồ sơ pháp lý phải được rà cùng lúc. Khi ba việc này chưa gặp nhau, một khu tái định cư được xem là cần thiết vẫn có thể mắc lại ở thủ tục.

An cư phải gắn với sinh kế

Với các xã miền núi, khu tái định cư ngoài hạ tầng còn phải tính đến đất sản xuất và sinh kế. Nếu những điều kiện này không được chuẩn bị ngay từ đầu, người dân sẽ khó ổn định lâu dài tại nơi ở mới.

 

Hạ tầng phải đi trước

Một khu bố trí dân cư thường được yêu cầu tính đồng bộ từ san nền, giao thông, điện, nước, xử lý chất thải đến công trình chống sạt lở, trường học, y tế, nhà sinh hoạt cộng đồng và hệ thống thông tin, cảnh báo thiên tai.

Ông Briu Quân, Chủ tịch UBND xã Avương cho biết, khó khăn lớn nhất của địa phương là quỹ đất bằng rất hạn chế. Những vị trí có thể bố trí dân cư thường phải san gạt đồi núi, mở đường, gia cố mái ta luy, xây kè, làm rãnh thoát nước và xử lý lượng đất đá phát sinh. Đối với miền núi, san ủi mặt bằng là điều kiện tiên quyết của một khu tái định cư. Nhiều nơi muốn có được một mặt bằng đủ an toàn phải khảo sát địa chất, xử lý nền, gia cố ta luy, làm kè và hệ thống thoát nước ngay từ đầu. Nếu phần kinh phí này tính chưa đủ thì khi triển khai rất dễ phát sinh khó khăn.

Nhiều căn nhà ven sông Thu Bồn trên địa bàn xã Nông Sơn nằm trong vùng sạt lở nghiêm trọng. Ảnh: CÔNG CHIẾN

Từ thực tế Avương, địa phương đề nghị các điểm dân cư mới phải tính đầy đủ đường giao thông, điện, nước sinh hoạt, nhà sinh hoạt cộng đồng, trường học, y tế, thông tin liên lạc, công trình phòng chống thiên tai và đất sản xuất. Hiện một số khu tái định cư đã hình thành trước đây vẫn còn thiếu hệ thống cấp nước hoặc thoát nước, có nơi có hạ tầng nhưng chưa bố trí đủ hộ, có dự án đã phê duyệt nhưng vướng đất đai, giải phóng mặt bằng và nguồn vốn. Vì vậy, trước khi mở thêm khu mới, khả năng tiếp nhận của những khu hiện hữu cần được kiểm tra, tránh đầu tư thêm trong khi quỹ đất và hạ tầng đã có chưa được sử dụng hết.

Đề án sắp xếp, ổn định dân cư miền núi, vùng thiên tai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, giai đoạn 2026 - 2030 đã đặt yêu cầu mỗi khu phải xác định nguồn nước sinh hoạt, hiện trạng nước mặt, nước dưới đất và nguy cơ tác động đến nguồn nước trong quá trình xây dựng, sử dụng. Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng việc chọn vị trí phải đi trước một bước so với thiết kế hạ tầng. Một mặt bằng thuận lợi thi công nhưng khó bảo đảm nước sinh hoạt, thoát lũ, đường kết nối thì chi phí khắc phục về sau có thể lớn hơn rất nhiều; nếu chỉ tính chi phí tạo nền và đưa hộ dân đến ở thì chưa đủ. Có những hạng mục ở miền núi rất lớn như san nền, xử lý mái dốc, tường chắn, thoát nước, đường vào khu dân cư. Sau đó còn điện, nước, trường học, y tế và các điều kiện sinh hoạt. Những nội dung này phải được nhận diện ngay khi tính phương án.

 

Sinh kế phải đi cùng

Hạ tầng chỉ bảo đảm một phần của nơi ở mới. Yêu cầu phương án sinh kế phải được xây dựng cùng phương án nơi ở, rà soát nghề nghiệp, đất sản xuất, nguồn thu, kỹ năng lao động và khả năng tiếp tục sử dụng đất sản xuất tại nơi cũ của từng nhóm hộ.

Cơ sở hạ tầng thiết yếu là vấn đề cần được quan tâm đầu tiên khi thành lập các khu tái định cư mới. Ảnh: PHÚ THIỆN

Ông Hồ Văn Thể, Phó Trưởng ban Dân tộc HĐND thành phố cho rằng, đây là bài học đã nhìn thấy từ những khu tái định cư trước. Có nơi người dân được chuyển đến khu tập trung nhưng ở xa đất sản xuất, thiếu đất làm ăn, sau một thời gian lại quay về khu vực cũ. Theo ông Thể, từng phương án cần làm rõ đất sản xuất, chuyển đổi nghề, nước sinh hoạt, giao thông, trường học, y tế và khả năng kết nối thị trường. Thành phố cũng nên nghiên cứu hỗ trợ sản xuất trong những năm đầu sau tái định cư, thời điểm nhiều gia đình chưa tạo được nguồn thu ổn định tại nơi ở mới.

“Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đưa được căn nhà ra khỏi nơi nguy hiểm mới là bước đầu. Sau khi chuyển đi, người dân sản xuất ở đâu, nước sạch, đi lại thế nào và thu nhập bằng cách nào phải được tính cùng lúc. Trước đây có trường hợp bố trí dân cư tập trung nhưng nơi ở mới xa khu sản xuất, người dân thiếu đất làm ăn rồi lại quay về nơi cũ. Đề án lần này cần tránh lặp lại tình trạng đó”, ông Thể nói.

Trong khi đó, ở Sơn Cẩm Hà, mối quan tâm của người dân còn đi xa hơn nền nhà mới. Ông Hoàng Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã cho biết, qua các cuộc họp dân, nhiều hộ hỏi rất cụ thể diện tích đất tại nơi ở cũ sẽ được xử lý ra sao sau khi di chuyển. Phần đất này vẫn là tư liệu sản xuất của gia đình, trong khi địa phương chưa có hướng dẫn đủ rõ để giải thích và vận động người dân đăng ký. Nếu chưa có hướng dẫn rõ thì cán bộ cơ sở rất khó giải thích để bà con yên tâm đăng ký.

Tái định cư cho người dân vùng thiên tai cần gắn với sinh kế bền vững để người dân an cư lạc nghiệp. TRONG ẢNH: Người dân ở vùng sạt lở Mỹ Hảo, xã Vu Gia quay lại nơi ở cũ để chăn nuôi, sản xuất. Ảnh: PHAN VINH

Sinh kế tại nơi ở mới còn liên quan cách quản lý phần đất cũ và khả năng tiếp tục canh tác. Nếu người dân vẫn có thể sử dụng an toàn đất sản xuất trước đây thì đường đi và khoảng cách phải đủ thuận lợi. Trường hợp không còn quỹ đất phù hợp, phương án cần mở sang đào tạo nghề, việc làm hoặc tổ chức sản xuất khác. Với miền núi, tính đủ sinh kế là cách giữ người dân ở lại nơi ở mới, bởi một khu dân cư chỉ bền khi gia đình có việc làm, đường đến nơi sản xuất và thu nhập ổn định.

Chuẩn bị lộ trình, nguồn lực

Danh mục hàng trăm khu dân cư cùng nhu cầu vốn hàng nghìn tỷ đồng để sắp xếp, ổn định dân cư miền núi đặt ra yêu cầu phải tính kỹ lộ trình, khả năng thực hiện. Giai đoạn 2026 - 2030 cần xác định rõ thứ tự ưu tiên, nguồn vốn và trách nhiệm của từng cấp, từng ngành để các dự án cấp thiết có thể triển khai đúng tiến độ.

Xếp đúng thứ tự

Dự thảo Đề án sắp xếp, ổn định dân cư miền núi, vùng thiên tai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, giai đoạn 2026 - 2030 đang hình thành thứ tự ưu tiên theo mức độ nguy hiểm và mức độ sẵn sàng của từng dự án. Nhóm đầu là các hộ đang bị đe dọa trực tiếp hoặc thuộc khu vực đã công bố tình huống khẩn cấp; tiếp đến là dự án chuyển tiếp có khả năng hoàn thành sớm, dự án mở mới đã đủ hồ sơ về hộ dân, đất đai, quy hoạch, an toàn và nguồn nước. Những khu còn thiếu căn cứ hoặc đang vướng thủ tục được đưa vào nhóm tiếp tục hoàn thiện trước khi quyết định đầu tư.

Những căn nhà mới được xây dựng trên vùng an toàn mang lại sự phấn khởi cho người dân. Ảnh: PHAN VINH

Ông Hồ Văn Thể, Phó Trưởng ban Dân tộc HĐND thành phố cho rằng, cách xếp thứ tự phải giữ một nguyên tắc rõ ràng là mức độ nguy hiểm đối với tính mạng và tài sản của người dân phải đứng trước sự thuận lợi trong đầu tư. “Tiêu chí hàng đầu phải là mức độ nguy hiểm đối với tính mạng và tài sản của người dân. Không nên vì khu nào thuận lợi đầu tư hơn, dễ bố trí vốn hơn thì làm trước, trong khi nơi khác cấp bách hơn lại tiếp tục chờ. Những khu có nguy cơ rất cao phải được ưu tiên trước, sau đó mới tính đến các khu còn lại”, ông Thể đề nghị.

Ông Thể cũng lưu ý cần biết rõ trong 5 năm tới thành phố sẽ đưa được bao nhiêu hộ ra khỏi vùng mất an toàn, bố trí họ ở đâu, theo hình thức nào và đến năm 2030 còn bao nhiêu hộ tiếp tục phải xử lý. Việc phân loại này giúp lượng hóa phần việc từng năm và tạo cơ sở kiểm tra kết quả thực hiện.

Câu chuyện tại Phước Chánh cho thấy phân kỳ cần bám sát diễn biến ở cơ sở. Ông Lưu Huyền Đức, Trưởng phòng Kinh tế xã cho biết địa phương đề nghị đưa khu thôn 3 lên mức ưu tiên 1 và thực hiện trong năm 2027 thay cho mốc muộn hơn. “Thôn 3 có vùng dân cư nằm ở khu vực có nguy cơ lũ quét, một số hộ sống sát bờ sông và mùa mưa thường xảy ra sạt lở. Nếu để đến năm 2029 mới đầu tư thì địa phương thấy hơi trễ, nên kiến nghị đưa khu này lên ưu tiên 1 để thực hiện từ năm 2027”, ông Đức nói.

Tuyến DH 1 dẫn vào trung tâm xã Phước Chánh bị sạt lở do đợt mưa lớn vào tháng 10/2025. Ảnh: QUỐC KỶ

Theo phương án hiện tại, 143 khu mở mới được dự kiến bắt đầu đầu tư 4 khu trong năm 2026, 53 khu năm 2027, 50 khu năm 2028 và 36 khu năm 2029. Tổng mức đầu tư theo đề xuất của địa phương khoảng gần 4.000 tỷ đồng. Phân kỳ cần được cập nhật khi nguy cơ thay đổi hoặc điều kiện dự án thay đổi. Thiên tai thay đổi theo từng mùa mưa, hồ sơ đầu tư của mỗi khu có tiến độ khác nhau, nên thứ tự đã xếp ở đầu kỳ vẫn cần được rà soát thường xuyên trong quá trình thực hiện.

Tổng mức đầu tư theo đề xuất của địa phương khoảng gần 4.000 tỷ đồng. Nhóm thực hiện tính lại sơ bộ theo suất đầu tư trên một hộ dựa vào một số dự án thực tế vào khoảng 3.537 tỷ đồng.

NĂM 2026

04 khu

 

NĂM 2027

53 khu

 

NĂM 2028

50 khu

 

NĂM 2029

36 khu

 

Tổng mức đầu tư theo đề xuất của địa phương khoảng gần 4.000 tỷ đồng. Nhóm thực hiện tính lại sơ bộ theo suất đầu tư trên một hộ dựa vào một số dự án thực tế vào khoảng 3.537 tỷ đồng.

 

Tính toán nguồn lực

Theo TS. Nguyễn Đại Trung, Trưởng khoa Kỹ thuật Thủy lợi, Trường Cao đẳng Công nghệ, kinh tế và thủy lợi miền Trung, phân kỳ vốn phải đi cùng khả năng chuẩn bị đầu tư của từng dự án. Nhóm thực hiện cũng thử tính lại sơ bộ tổng mức đầu tư theo suất đầu tư trên một hộ dựa vào một số dự án thực tế. Theo cách tính này, nhu cầu của 143 khu vào khoảng 3.537 tỷ đồng, thấp hơn khoảng 459 tỷ đồng so với tổng mức do các địa phương đề xuất ban đầu. Con số này còn sơ bộ và phải được hoàn thiện theo từng dự án.

“Danh mục gần 4.000 tỷ đồng không có nghĩa là cứ chia vốn theo danh sách rồi triển khai. Phải xác định khu nào cấp bách, khu nào đã đủ điều kiện, khu nào còn vướng đất đai, quy hoạch hay nguồn nước. Một dự án chưa đủ điều kiện mà vẫn bố trí vốn trước thì rất dễ chậm, trong khi nơi nguy hiểm hơn lại thiếu nguồn lực”, TS. Trung nói.

Từ góc độ lồng ghép nguồn vốn, ông Nguyễn Anh Tài, Phó Chánh Văn phòng Điều phối chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới thành phố Đà Nẵng cho rằng, trong giai đoạn sắp tới một số khu tái định cư có quy mô đầu tư khoảng 3-5 tỷ đồng hoặc 7-8 tỷ đồng có thể nghiên cứu sử dụng nguồn vốn chương trình nếu phù hợp mục tiêu và điều kiện của từng địa phương. Các xã có thể rà soát công trình cấp thiết để đề xuất lồng ghép và tính thêm phần hỗ trợ sinh kế sau di dời. Khả năng cân đối nguồn lực trong giai đoạn này tương đối khó nên cần tính phương án lồng ghép nhiều nguồn. Các xã biết rõ khu nào cấp bách, dự án nào có thể bố trí vốn thì nên chủ động tính toán để triển khai trước.

Sạt lở nghiêm trọng ở nhiều khu vực ven các sông Thu Bồn và Vu Gia đã lấy đi rất nhiều diện tích đất ở. Ảnh: PHAN VINH

Tại Hội thảo tham vấn ý kiến các sở, ban, ngành, đơn vị và địa phương có liên quan nhằm rà soát, hoàn thiện nội dung Đề án sắp xếp, ổn định dân cư miền núi, vùng thiên tai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2026 - 2030 diễn ra mới đây, ông Trương Xuân Tý, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương hoàn tất lần rà soát cuối, cập nhật số liệu, vị trí và ý kiến người dân để đơn vị tư vấn hoàn thiện hồ sơ. Các cơ quan chuyên môn tiếp tục đối chiếu quy hoạch, đất đai, môi trường, hạ tầng và những điểm khác nhau giữa hiện trạng với dữ liệu quản lý ngành.

“Chúng ta đều mong các khu đề xuất thực sự trở thành hiện thực để bà con có nơi an cư và cuộc sống ổn định lâu dài. Vì vậy, những điểm đang có khác biệt giữa hiện trạng địa phương và hồ sơ quản lý ngành phải được kiểm tra, xử lý từ bây giờ. Nếu để một vị trí vướng rừng tự nhiên trong phương án thì sau này gần như không khả thi”, ông Trương Xuân Tý nói.

 

 

Nội dung: PHAN VINH - AN NHIÊN - NAM PHƯỚC

Trình bày: MINH TẠO

Các tin cũ hơn:

Liên kết Website